Phụ nữ mang thai có nên ăn nhiều hải sản?

Tuy nhiên có nhiều tài liệu cho rằng hải sản chứa lượng thuỷ ngân cao nên khi ăn sẽ không tốt cho thai nhi. Vậy phụ nữ mang thai nên ăn hải sản như thế nào cho hợp lý?

Hải sản có chứa hàm lượng thủy ngân cao gây độc hại cho thai nhi như thế nào ?

Thủy ngân là một kim loại (dạng chất lỏng) tồn tại khắp nơi trong môi trường sống của chúng ta. Khi thủy ngân hòa tan trong nước, các loại động thực vật sẽ hấp thu nó qua da và lượng thức ăn mà chúng ăn. Hầu hết các loại hải sản đều có chứa thủy ngân, chỉ khác mức độ ít nhiều. Thường những loài cá lớn sẽ chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn so với các loài cá bé do lượng thức ăn chúng tiêu thụ nhiều hơn, ngoài ra cá lớn thường ăn cá bé dẫn đến tích tụ hàm lượng cao thủy ngân trong cơ thể.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi thai phụ ăn phải cá nhiễm lượng thuỷ ngân cao, thủy ngân sẽ đi tới nhau thai làm suy giảm khả năng phát triển của hệ thần kinh và não bộ thai nhi. Thậm chí kỹ năng nhận thức như trí nhớ và mức độ tập trung, ngôn ngữ, kỹ năng vận động và khả năng nhìn cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, phụ nữ mang thai cần chú ý cẩn thận khi ăn hải sản, đặc biệt là những loại cá chứa nồng độ thủy ngân cao nói trên.

Phụ nữ mang thai có nên ăn nhiều hải sản

Hải sản là một phần không thể thiếu trong thực đơn của phụ nữ mang thai bởi loại thực phẩm này chứa rất nhiều thành phần dinh dưỡng.

Mẹ bầu ăn hải sản như thế nào cho hợp lý

Một nghiên cứu năm 2002 được công bố trên tạp chí Y học Anh chỉ ra rằng phụ nữ mang thai ăn cá trong tam cá nguyệt thứ nhất giúp giảm nguy cơ bị sinh non và nhẹ cân. Do vậy, mặc dù có nhiều khuyến cáo về việc ăn hải sản đối với phụ nữ mang thai nhưng nó thực sự cần thiết đối với thai phụ. Để bổ sung hải sản hợp lý, mẹ bầu nên chú ý một số vấn đề sau khi bổ sung thực phẩm này trong chế độ ăn:

  • Bà bầu nên ăn nhiều loại hải sản khác nhau như tôm, cua, cá nước ngọt, ốc… và một số loại thủy, hải sản giàu chất sắt, phòng chứng thiếu máu ở bà bầu như: sò, tôm, cá mòi, trai…
  • Một tuần chỉ nên ăn khoảng 340 gram hải sản.
  • Những loại cá giàu omega 3 và ít thủy ngân bao gồm: cá hồi, cá mòi, cá trích, cá ngừ (nên hạn chế ăn cá ngừ đóng hộp)
  • Các loại hải sản này cần được vệ sinh diệt khuẩn trước khi chế biến và cần được nấu chín trên 1000
  • Bà bầu không nên ăn nội tạng cá hay các loại dầu gan cá vì chúng chứa rất nhiều vitamin A. Một lượng lớn vitamin A từ cơ thể người mẹ có thể gây hại cho em bé.
  • Cần hạn chế, tốt nhất là không ăn các loại gỏi cá, sushi… Bởi các món ăn này có chứa cá chưa được nấu chín dễ bị nhiễm khuẩn E.coli và sán nên có thể gây ngộ độc.
  • Cần chế biến và nấu chín thực phẩm trước khi sử dụng. Thai phụ không nên mua những loại cá (tôm, cua…) đã được chế biến sẵn vì chúng có thể bị nhiễm khuẩn.
  • Thận trọng khi ăn các loài cá chứa hàm lượng thuỷ ngân cao bao gồm: cá mập, cá ngừ xanh, cá kiếm, cá kình, cá thu, cá đuối, cá bơn, cá tuyết, cá chẻm (cá Barramundi), cá cam roughy, cá chỉ vàng…

Một số lưu ý về chế độ dinh dưỡng khác của bà bầu

Khi mang thai nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn mức bình thường, vì nhu cầu này ngoài việc cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của mẹ, sự tăng về khối lượng của tử cung, còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú.

Để đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng và năng lượng theo đúng chuẩn, ngoài 3 bữa chính, mỗi ngày, mẹ bầu nên ăn thêm từ 2 đến 3 bữa phụ nhỏ mỗi ngày, và tuyệt đối không nên bỏ bữa.

Trong chế độ ăn, mẹ phải đặc biệt lưu ý bổ sung những hoạt chất quan trọng cần thiết trong quá trình mang thai như Sắt, Acid folic, Canxi, Kẽm, Iot, Vitamin A, B, C…, đặc biệt những dưỡng chất giúp phát triển não trẻ như DHA nếu được bổ sung hàng ngày 1 lượng gần 80mg cũng tương đương với 1 lượng thức ăn lớn như 8 con tôm to, gần 4 quả trứng ngỗng hay 120g cá hồi.

Tuy nhiên trên thực tế, khẩu phẩn ăn hàng ngày thường không đảm bảo đủ dinh dưỡng cho người mẹ. Do vậy việc bổ sung dinh dưỡng, đặc biệt các vitamin, khoáng chất và các yếu tố vi lượng qua các loại viên uống là cần thiết nhằm đảm bảo sức khỏe cho người mẹ cũng như sự phát triển toàn diện của thai nhi. Việc này được khuyến cáo nên bắt đầu sớm thậm chí trước khi có thai 3 tháng và kéo dài kể cả sau khi sinh.

DS. Phương Dung